Ông nội

Trước ngày ông mất, hồn ông dường như đã trở về thành một đứa trẻ bên trong thân xác già nuôi đang ngày một héo úa dần dần. Thậm chí ông không còn phân biệt được nắng hay bóng râm, nhiều buổi trưa ông nằm ngủ trên võng và để mặc kệ cho cái nắng 40 độ thiêu đốt làn da đã chai đi qua năm tháng. Ông nằm đó nhiều khi mình cảm giác ông không còn ở đó nữa. Cây cối trong vườn ngày xưa ông trồng giờ cũng đã già cỗi, xơ xác. Đất miền Trung nắng hạn càng làm cho mỗi nhịp thở của ông thêm nặng nhọc, nhiều lúc đến gần thấy ông thở phì phò như tiếng kêu quạt bếp. Những ngày cuối cùng ông hay giận dỗi, “hờn mát” và thỉnh thoảng mình nghe ông với bà to tiếng với nhau nhưng câu từ của ông lúc đó lại “ngây ngô” như cách một đứa trẻ ương bướng cãi bằng cái lý bé tý của nó.

Một ngày nọ mình thấy ông ngồi bên bậc thềm vá chiếc quần cộc đã sờn màu. Chiếc quần đó ước chừng ông mặc đã 2, 3 năm, chỉ cần lấy tay xé nhẹ nó cũng tan tành như mảnh giẻ phơi nắng phơi mưa ngày qua ngày. Ông cắm cúi vá dù mắt đã nhòe đi, mi mắt ông dày lên mọng nước và khóe mắt ông dính đầy dỉ. Mình không cầm được lòng giờ phút đấy, nếu mình không vá có lẽ ông cứ ngồi đó cắm cúi đến khi trời chập choạng tối về trong vườn cây.

Mình biết lúc đó ông chẳng còn sống được là bao nữa. Đi đâu người trong làng gặp mình cũng hỏi ngày: “Ông sao rồi?”. Ý họ muốn biết ông sắp chết chưa. Kể cả các cô bác trong họ nội cũng đã chuẩn bị kỹ càng lắm rồi. Những điều đó hồi đó làm cho mình có chút bực mình. Mình nghĩ sao mọi người lại có thể có vẻ dửng dưng đến thế, bình chân như vại đến thế, sao họ có thể nói về cái chết của ông nhẹ nhàng như buông một câu đùa khi ông còn đang sống ở đó. “Chắc không được bao lâu nữa đâu bác ạ, anh ạ, cô ạ”. Mọi người vẫn thường nói như thế với những người hàng xóm.

Rồi ông đi.

Trong một buổi trưa trời nắng nóng, điện của xã tới phiên bị cắt để tiết kiệm điện. Ông nằm trên võng rồi rơi xuống nền đất. Mình là người thấy ông ngã đầu tiên, toán loạn gọi cha chạy xuống đỡ ông lên. Hai người hì hục đỡ ông vào nhà, ông nằm đó, chưa chết nhưng không còn ý thức nữa. Lúc đó mình sợ vô cùng. Mắt ông chẳng thể mở được và ông thở phì phò rất khó nhọc, tiếng thở gấp gáp, đua sống đua chết để không khí ra vào và ông không ngừng rên rỉ điều gì đó mà chẳng ai có thể hiểu được. Mình mãi luôn thắc mắc không biết giờ phút đó ông muốn nói điều gì. Chẳng ai đủ bình tĩnh để nghe ông nói được nữa. Cha toán loạn gọi các cô bác, mình đạp xe đi gọi ông bác sĩ của xã.

Chiếc xe đạp lộc cộc ghé đến nhà vị bác sĩ. Mình nói sơ qua tình hình. Người bác sĩ đó bình thản nói: “Đến lúc rồi đó”. Khi ông ta đến nhà, ông ta dùng tai nghe khám sơ qua rồi quay sang bảo mọi người lúc đó đã chầu chực sẵn ở đó: “Ông chuẩn bị đi nha”. Lúc đó chẳng ai khóc, thực sự chẳng ai dám khóc vì ông vẫn còn sống. Ông sống nốt những giây phút cuối cùng với dòng nước dải chảy ra bên khóe miệng mà cô lau hoài không ngớt, với tiếng thở như tiếng quạt lò rèn yếu đuối lần hồi và những tiếng rên rỉ như thế đang đối thoại với một người nào đó, ở một thế giới nào đó không phải là thực tại. Mình đứng đó cố gắng để không khóc. Ông yếu từ từ rồi gần một tiếng sau, ông không còn thở nữa. Lúc đó những người cô kêu khóc, cha mình cũng khóc, còn bác mình ngăn mọi người lại bảo rằng: “Mọi người yên lặng để hồn ông ra đi”.

Mình cũng tin như thế, tin rằng linh hồn ông đang quanh quẩn nơi đây và nhìn ngắm từng khuôn mặt của những người con, người cháu, dâu rễ. Chắc có lẽ ông sẽ cố gắng nhớ rõ từng khuôn mặt đó để cho dù đi về một miền nào nữa, ông cũng sẽ vẫn nhớ.

Nên khi cảm thấy không thể nín được thêm nữa, mình chạy về nhà mình. Hai căn nhà chung một thưở đất. Lúc đó em mình cũng đã ngồi bệt xuống bậu cửa khóc. Mình cố gắng chạy vù vào góc nhà đứng khóc một mình, đau đến quặn ruột lại.

Ông ra đi rút đi của mình một phần ngây thơ. Từ đó mình hiểu rằng cuộc sống của con người ngắn ngủi biết chừng nào. Những người thân bên cạnh nếu một ngày họ không còn nữa, trong ta còn gì ngoài xót xa. Nhiều đêm sau đám tang ông, mình cứ mơ về ông. Nhưng trong những giấc mơ đó chẳng có gì khác ngoài những ký ức từ hồi nhỏ với ông, chẳng có mộng mị, chỉ có hoài niệm.

Mình nhớ những ngày hè nắng như có thể thành lửa, bọn chúng mình vẫn đầu trần đội nắng đi khắp những mảnh ruộng nẻ chân chim vì hạn. Lúc thì vòi ông làm cho cánh diều hình trăng lưỡi liềm, lúc mè nheo ông đẽo cho cái dạn cao su để bắn chim, lúc lại bắt ông vót cần câu cá cờ. Ông luôn chiều theo ý của cháu, kể cả khi bị mẹ đánh, nếu ông ở nhà ông cũng sẽ can ngăn.

Nhưng phần lớn thời gian ông không ở nhà. Ông phải vào trang trại ở chân núi làm lụng. Mấy chục năm trời ông lộc cộc đạp chiếc xe Thống Nhất đi đi lại lại con đường núi 4 cây số. Từ nhà đi ông mang theo gạo, đồ ăn, và một ít rượu. Từ trang trại trở về ông chở theo chè xanh, chuối hoặc những con gà. Lý do mình ghét chuối là vì từ hồi nhỏ đến lớn đã ăn rất nhiều chuối, ăn đến mức chán chê ê chề vì lần nào về nhà ông cũng mang theo chuối. Và mình cũng ghét những người uống rượu nữa. Về cuối đời, ông cứ lén lút đi mua rượu dù cho mọi người can ngăn rất nhiều. Đến một lúc không thể cản được, mọi người mới tặc lưỡi: “Thôi để cho ông uống cho đã đời, dù sao ông cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa”. Trước thời điểm ông mất, hễ ai đến thăm ông, ông đều xin tiền mua rượu. Còn mình, ông không xin xỏ bất kể điều gì.

Con đường 4 cây số đò thỉnh thoảng mình cũng đạp xe vào thăm ông. Nếu trời mưa chẳng khác nào đang đi trên lưng một con lươn khổng lồ, trơn tuột luột. Đó là lí do vì sao nhiều lần người ta bảo ông tắm ở những con mương dẫn nước nội đồng. Lúc đó có lẽ ông bị ngã nên ông phải rửa ráy lại cho sạch sẽ. Người ta còn bảo ông thỉnh thoảng còn ngủ ở nghĩa địa. Mình có hỏi, ông bảo lúc đó phải gánh 2 gánh chè tươi về nặng quá, ông mệt quá nằm nghỉ luôn ở đó.

Đời ông thật lam lũ nhưng thật sự chưa bao giờ ông biết than thở. Người ta kể hồi xưa nhà ông là nghèo khổ lắm, mà hồi xưa hình như ai chả nghèo như vậy. Chắc có lẽ chỉ mỗi nhà bà nội là giàu có. Người ta còn bảo vì bà mà ông mới khổ như vậy. Hồi đó mình không quan tâm lắm vì bà cũng rất thương cháu. Nhưng đúng là ông bà chả bao giờ có thể ngồi cùng với nhau. Thậm chí bà mỗi lần đi chợ về mua rất nhiều bánh trái nhưng không chia cho ông bao giờ. Ông làm vất vả như thế còn bà chỉ ở nhà đung đưa trên một chiếc võng mắc từ cột nhà này đến cột nhà kia năm này qua tháng khác.

Con cháu đa số thương ông hơn. Ông hiền và luôn lo nghĩ cho mọi người. Kể cả khi ra đi, mọi người cũng bảo vì ông thương con cháu nên ra đi nhanh lẹ, chẳng phiền ai phải chăm viện này viện kia.

Con người ông không thuộc về thế giới hiện đại. Thậm chí ông còn không biết xem phim, vật hiện đại duy nhất đối với ông lúc đó là một chiếc đài thu thanh nho nhỏ dùng pin con thỏ. Ở ngôi chòi tranh trong trang trại cũng không có điện, ông mò mẫn trong bóng tối và ánh sáng nhờ nhờ của chiếc đèn dầu đến hết cuộc đời. Và hình như ông cũng chẳng trông mong gì nhiều về mọi thứ. Ông sống lặng lẽ như một cội chè đã già thu mình trong vườn, bỏ mặc thế gian, thị phi rồi một ngày ông cũng lặng lẽ ra đi.

Cái lần ông ngồi vá quần, mình có lén chụp ông. Lúc đó mình thấy có chút lạ là hình như ông đang suy tư điều gì đó. Đó là lần đầu tiên mình thấy ông như thế nhưng mãi mãi về sau chẳng thể nào mình biết được người đàn ông lưng còng, da nám nắng nhăn nheo, tay đang vá chiếc quần cộc bằng mũi kim to tổ chẳng đang nghĩ hay nhớ về điều gì. Những gì mình biết về ông quá ít nếu không nhờ một sự liên kết về huyết thống và những kỷ niệm bên nhau có lẽ chẳng khác một người dưng. Cũng chẳng trách được vì lúc đó mình còn quá nhỏ dại để hỏi ông: “Ông đang nghĩ gì thế?”. Hoặc thậm chí lúc đó mình có hỏi, ông cũng chẳng hiểu ý nghĩa của từ “nghĩ” nữa.

Lại sắp đến giỗ ông.

Site Footer

Copyright by ThangSonDoan. All posts are freely shareable with the backlink to the original.